Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Bát-Nhã Tâm Kinh Dịch Và Chú Giải

BÁT NHÃ TÂM KINH DỊCH VÀ CHÚ GIẢI.
Nguyễn Quốc Khanh An Minh, ngày 01/ 07/ 2009.
I.MỞ ĐẦU.

Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa-Tâm Kinh còn gọi là Bát-Nhã Tâm Kinh hây Tâm Kinh, được Sư Huyền Trang dịch từ Phạm bản Ấn Độ sang Hán Ngữ vào giữa thế kỷ thứ VII, đời nhà Đường. Bản dịch văn Hán ngắn chỉ có 260 chữ nhưng là tinh yếu của toàn hệ kinh Bát-Nhã, nội dung bao quát toàn bộ giáo nghĩa của Phật Giáo Đại Thừa. Là kim chỉ nam cho tất cả Phật tử trên con đường đi đến chánh giác. Vì thế kiến giải nghĩa lý chân thật của bài kinh, giúp cho Hành Giả không bị lạt vào lối rẻ tà kiến trong quá trình tu tập. Bản dịch Việt và chú giải nầy, chủ yếu dựa vào bản dịch của Sư Huyền Trang có tham khảo thêm các bản dịch của các ngài: Cưu Ma La Thập, Nghĩa Huyền, Pháp Nguyệt, Bát Nhã, Lợi Ngôn, Trí Tuệ Luận, Pháp Thành, và Thi Hộ. Sau phần dịch Việt là phần chú giải nhằm làm sáng tỏ thêm giáo nghĩa của bài kinh.

II. CÁC BẢN DỊCH.

1. Bản dịch Hán.

BÁT NHÃ TÂM KINH.
Pháp Sư Huyền Trang
(Phiên âm Hán -Việt)

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ -uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới. Vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn.

Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế, Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề. Tát bà ha.


2. Bản dịch Việt


TRÍ TUỆ TRONG TỈNH THỨC -TÂM KINH.

Xem xét chính mình, Bồ Tát thực hành thâm sâu Trí tuệ trong tỉnh thức, thì thấy rằng: Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức đều là Không, khi đó khổ đau ách nạn tan biến hết.

Nầy người thông minh, thân xác chẳng khác Không, Không chẳng khác thân xác, thân xác chính là Không, Không chính là thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức cũng đều như thế.

Nầy người thông minh, tướng Không là sự hiện hữu ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Cho nên trong Không đó, không có Thân xác, không có cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tư tưởng, không có hình dáng, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và các khái niệm, không có thế giới sự vật cho đến không có thế giới ý thức. Không có mê muội sai lầm, cũng không có hết mê muội sai lầm, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ đau, không có nguyên nhân dẫn đến khổ đau, không có chấm dứt sự khổ đau và không có con đường đưa đến chấm dứt sự khổ đau. Không có trí tuệ cũng không có chứng đắc. Vì không có gì để được, nên khi Bồ Tát nương tựa vào Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức nầy, thì tâm không còn vướng mắc, vì tâm không còn vướng mắc nên không còn sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến niết bàn. Các vị Phật đời quá khứ, đời hiện tại và đời tương lai, đều nương tựa vào Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức nầy mà đạt đạo quả Vô Thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác.

Phải biết rằng: Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức là lời nói thật có sức mạnh lớn, là lời nói thật của trí tuệ lớn, là lời nói thật lớn nhất, là lời nói thật cao cấp nhất, luôn trừ hết các khổ não, chân thật không dối.
Cho nên, khi nói đến Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức, tức là phải nói đến lời thật: Vượt qua, vượt qua, đến bờ tỉnh thức, nương vào tỉnh thức, thành tựu tuệ giác. 



III. DỊCH VÀ CHÚ GIẢI.

1. ĐỀ KINH.

Bát-Nhã-Tâm Kinh tên đầy đủ là Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa-Tâm Kinh.
-Bát-Nhã là trí tuệ.
-Ba-La-Mật-Đa là đến bờ kia, bờ kia ngụ ý là Sự Cứu Cánh hây một trạng thái Tỉnh Thức.
-Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa là chỉ một loại Trí Tuệ có được trong trạng thái Tỉnh Thức.

Trí Tuệ Trong Trạng Thái Tỉnh thức và Trí Tuệ Thông Thường có thể phân biệt được như sau:

Trí tuệ thông tường, có thuộc tính là nhận thức được sự thật quy ước (các sự thật xuất phát trên cơ sở của Vô Minh), nhờ hoạt động của tâm thức trên nền tản các khái niệm.

Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức có thuộc tính trực nhận sự thật tuyệt đối (các sự thật xuất phát trên cơ sở của Tỉnh Thức), khi tâm thức không còn vướng mắc vào các khái niệm.

Tóm lại: trí tuệ thông thường là trí tuệ khi Hành Giả chưa Tỉnh Thức. Trí Tuê Trong Tỉnh Thức là trí tuệ khi hành giả đã Tỉnh Thức nhờ thực hành thâm sâu Sáu Độ Ba-La-Mật (Lục Độ Ba-La-Mật).

Tâm kinh là kinh trung tâm, kinh trọng yếu. Của hệ kinh Bát Nhã.Trong bản dịch Việt nầy giữ nguyên từ Tâm Kinh.

Trí tuệ trong tỉnh thức- Tâm Kinh, là kinh trọng yếu của toàn hệ kinh Bát-Nhã, nói lên sự thật tuyệt đối về con người, được thấy trong trạng thái Tỉnh Thức và vai trò tất yếu của Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức đối với sự giải thóat của các vị Bồ -Tát.


2. VĂN KINH.

Nội dung chính của Bát-Nhã-Tâm Kinh được tóm gọn trong câu đầu tiên của kinh nầy:

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ -uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

-Quán: Xem xét,

-Tự-tại: Chính mình.

-Bồ Tát viết tắt của Bồ Đề Tát Đỏa là danh từ chung chỉ tất cả chúng sanh phát tâm cầu đạo giác ngộ.

Quán-tự-tại Bồ-Tát, trong câu kinh trên có nghĩa là: Bồ Tát xem xét về chính mình.

-Hành thâm: Là thực hành thâm sâu.

-Bát-nhã Ba-la mật-đa là Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức.

-Thời:Thì.

-Chiếu kiến: Soi thấy, nhận ra.

-Ngũ uẩn: Năm uẫn (Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức).

-Giai không: Đều là không.

-Độ nhất thiết khổ ách: Khổ đau ách nạn tan biến hết.

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ -uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.Nghĩa là:

Xem xét chính mình, Bồ Tát thực hành thâm sâu Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức thì thấy rằng: Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức đều là không, khi đó khổ đau ách nạn tan biến hết.

Đọan kinh văn nầy gồm các ý như sau.

-Đối tượng được Bồ -Tát xem xét là chính mình.

-Phương pháp xem xét của Bồ -Tát là thực hành thâm sâu Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức.

-Kết quả đạt được của Bồ -Tát là thấy rằng: Thân xác, cảm thọ, tri giác, tư duy và ý thức đều là Không.

-Hệ quả từ kết quả đạt được của Bồ -Tát là tất cả khổ đau ách nạn tan biến hết.

2.1. Đối tượng được Bồ -Tát xem xét.

Chính mình.
Là cái thật có đằng sau con người làm cho con người được hiện hữu, cũng có khi được gọi là Tự Tính của mình hây cái Ngã của ta. Như vậy đối tượng được Bồ-Tát xem xét là chính con người của Bồ-Tát.

2.2. Phương pháp xem xét của Bồ -Tát.

Thực hành thâm sâu Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức. 
Phương pháp tu hành đạt đến Gíac Ngộ của Bồ Tát được khái quát trong Sáu Phương Tiện Đến Tỉnh Thức (Lục độ Ba-La-Mật) gồm:

-Bố thí trong Tỉnh Thức.
-Trì giới trong Tỉnh Thức.
-Nhẫn nhục trong Tỉnh Thức.
-Tinh tấn trong Tỉnh Thức.
-Thiền định trong Tỉnh Thức.
-Trí tuệ trong Tỉnh Thức.

Trong Sáu Phương Tiện trên Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức là trọng yếu hơn cả, vì tu tập bằng phương tiện nào đi nữa cuối cùng cũng phải có Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức thì mới đạt đến giải thoát. Nhưng để tu tập có được Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức, thì phải tu năm phương tiện trợ duyên còn lại là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn và Thiền định. Vì thế Thực hành thâm sâu Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức, cũng có nghĩa là tu tập đến rốt ráo sáu phương tiện đến Tỉnh Thức (Lục độ Ba-La-Mật).

2.3. Kết quả đạt được của Bồ -Tát.

Thấy rằng: Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức đều là Không. 
Để tránh nhầm lẫn trước khi đi sâu vào ý nghĩa của của đoạn kinh nầy cần phải nhớ rằng: Lời thuyết giảng của chư Phật và Bồ Tát dựa trên hai sự thật, sự thật quy ước và sự thật tuyệt đối.

-Sự thật quy ước là các sự thật được xuất phát trên cơ sở Vô Minh.

-Sự thật tuyệt đối là các sự thật được xuất phát trên cơ sở Tỉnh Thức.

2.3.1. Sự thật quy ước về con người.

Từ sự thật quy ước Đức Phật dạy rằng: Con người được hợp bởi năm yếu tố (ngũ uẫn) gồm: Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức. Và có các tính chất: Khổ, Vô Thường và Vô Ngã.

-Thân xác là bao gồm tất cả phần vật chất nơi thân.

-Cảm thọ là sự nhận lấy các cảm giác không phân biệt dể chịu khó chịu hây trung tính, các cảm giac nầy do sáu căn (lục căn) là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tư tưởng, tương tác với các đối tượng của chúng là sáu trần (lục trần): Hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và các khái niệm tạo nên.

-Tri giác là khả năng tạo tác khái niệm, từ các cảm giác nhận lấy (từ cảm thọ) trong hiện tại và quá khứ.

-Vận động bao gồm mọi vận động từ sự vận động của thân xác cho đến sự vận động của ý thức.

-Ý thức được chia làm tám thức bao gồm các khả năng nhận biết, phân biệt, tích chứa, so sánh ….Các khái niệm từ tri giác trong hiện tại và quá khứ.

Năm uẫn đều khổ (sinh ra, già, bệnh, chết, lo lắng, tuyệt vọng, cầu mà không được ...), vì sau mà Năm uẫn đều khổ? Là vì Năm Uẫn Vô Thường (luôn biến đồi không ngường), sở dĩ Năm Uẫn Vô Thường là vì Năm Uẫn Vô Ngã (không có tự tính), nhưng vì sau mà Năm Uẫn Vô Ngã? Là vì Năm uẫn được sinh ra từ Lý Duyên Khởi (được sinh ra bởi nhiều yếu tố hợp lại), mà Lý Duyên Khởi xuất phát từ Vô Minh (mê muội sai lầm).
Như vậy Con Người (Năm Uẫn), các tính chất Khổ, Vô Thường, Vô Ngã và Lý Duyên Khởi là những sự thật quy ước, các sự thật nầy được thấy trên cơ sở của Vô Minh (mê muội sai lầm). Vậy thì con người được thấy trên cơ sở của Tỉnh Thức hây con người được thấy như là chính nó thì Con Người là như thế nào? Đây cũng chính là điều mà Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức-Tâm Kinh nói đến.


2.3.2. Sự thật tuyệt đối về con người.

Từ sự thật tuyệt đối Tâm Kinh khẳng định rằng: Năm uẫn là Không (Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức đều là không) và dẫn lời Phật thuyết giản như sau:

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Nầy người thông minh, thân xác chẳng khác không, không chẳng khác thân xác, thân xác chính là không, không chính là thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức cũng đều như thế.

Đoạn kinh nầy chỉ ra rằng: Không có sự khác biệt giữa Năm Uẫn và Không, cũng không có sự khác biệt giữa Không và Năm Uẫn, Không là năm uẫn, năm uẫn là không, vì Năm Uẫn là biểu hiện của Không được thấy trên cơ sở của mê muội sai lầm (Vô Minh). Vậy thì cái Không đó như thế nào? Tâm Kinh dẫn lời Phật thuyết giản như sau:

Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Nầy người thông minh, tướng không là sự hiện hữu ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Sinh - diệt, nhơ - sạch, thêm - bớt là biểu hiện của các tính chất Khổ, Vô Thường và Vô Ngã nơi sự vật được sinh ra từ lý duyên khởi. Nhưng Không chẳng có các biểu hiện nầy. Điều đó có nghĩa là: Không chẳng có Khổ, chẳng phải Vô Thường, chẳng phải Vô Ngã và cũng chẳng phải được sinh ra từ Lý Duyên Khởi.

Vì Không chẳng phải sinh ra từ Lý Duyên Khởi cho nên trong Không chẳng có Năm Uẫn (ngũ uẫn) chẳng có sáu căn (lục căn), chẳng có đối tượng của sáu căn (sáu trần), chẳng có sự hiện hữu cho đến chẳng có chủ thể nhận thức. Tâm Kinh dẫn lời Phật thuyết giản như sau:

Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới.

Cho nên trong không đó: Không có Thân xác, cảm thọ, tri giác, vận động và ý thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tư tưởng. Không có hình dáng, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và các khái niệm. Không có thế giới sự vật cho đến không có thế giới ý thức.

Chẳng những trong Không chẳng có sự vật hiện hữu bởi Vô Minh mà chính Vô Minh cũng chẳng có. Vì chằng có Vô Minh cho nên chẳng có già –chết, vì chẳng có già-chết cho nên chẳng có cái gọi là hết già-chết, vì chẳng có hết gìa-chết cho nên chẳng có Bốn Chân Lý Huyền Diệu (Tứ Diệu Đế), vì chẳng có Bốn Chân Lý Huyền Diệu cho nên chẳng có cái gọi là Trí Tuệ và cũng chẳng có chứng Đạo hây đắc Đạo gì cả. Tâm Kinh dẫn lời Phật thuyết giản như sau:

Vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Không có mê muội sai lầm, cũng không có hết mê muội sai lầm. Không có già chết, cũng không có hết già chết. Không có khổ đau, không có nguyên nhân dẫn đến khổ đau, không có chấm dứt sự khổ đau và không có con đường đưa đến chấm dứt sự khổ đau.Không có trí tuệ cũng không có chứng đắc.

Tóm lại: Con Người là một tập hợp bởi Năm Uẫn (duyên hợp), không có Tự Tính bên trong (Vô Ngã), luôn biến đổi không ngừng (Vô Thường), luôn chịu Khổ.(sinh ra – già đi – bệnh – chết…). Để được hết khổ thì phải diệt trừ mê muội sai lầm (Vô Minh), mà muốn diệt trừ mê muội sai lầm (Vô Minh) thì phải có Trí Tuệ, mà có Trí Tuệ là hiểu Bốn Chân Lý Huyền Diệu (Tứ Diệu Đế). Tất cả những chân lý đó là do ta thấy chưa đúng như thật về Con Người. Nói cách khác là Con Người được thấy trên cơ sở mê muội sai lầm (Vô Minh).

Từ cái thấy trên cơ sở Tỉnh Thức Tâm Kinh nói với chúng ta rằng: Con Người là Không, chẳng phải sinh ra từ Lý Duyên Khởi, chẳng có chết, chẳng có Khổ, chẳng phải Vô Thường, chẳng phải Vô Ngã và cũng chẳng có cái gọi là Vô Minh. Đó là sự thật tuyệt đối về Con Người được thấy như là chính nó.

Lưu ý:
Không thể nói rằng: "Con Người được thấy như là chính nó" có tính Lạc vì chẳng có Khổ, có tính thường vì chẳng phải Vô Thường, có Ngã vì chẳng phải Vô Ngã. Bởi vì nói như thế thì có nghĩa là ta thấy Con Người thông qua các Khái niệm, mà Khái niện lại là sản phẩm của Vô Minh. Cho nên Tâm Kinh dùng phương pháp phủ định, phủ định tất cả Khái niệm nói về nói lên sự thật tuyệt đối, nhằm không cho Hành Giả cố tìm Chính Mình trong các khái niệm của Vô Minh.



II.4. Hệ quả từ kết quả đạt được của Bồ-Tát.

Tất cả khổ đau ách nạn tan biến hết.

Như đã trình bày ở trên, nhờ Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức mà Bồ Tát thấy được sự thật về Con Người của mình, vậy thì sự thật nầy có vai trò gì đối với sự Giải Thoát khỏi khổ đau ách nạn của Bồ Tát? Tâm Kinh dẫn giải:

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn. Nghĩa là:

Vì không có gì để được. Nên khi Bồ Tát nương tựa và Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức nầy thì tâm không còn vướng mắc, vì tâm không còn vướng mắc nên không còn sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến Niết Bàn.

Đoạn kinh nầy chỉ ra rằng: Gỉai Thoát khỏi khổ đau ách nạn là hệ quả tất yếu khi Bồ Tát thực hành Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức,đồng thời cũng chỉ rỏ quá trình đó diễn ra như thế nào:(Nên khi Bồ Tát nương tựa và Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức nầy thì tâm không còn vướng mắc, vì tâm không còn vướng mắc nên không còn sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến Niết Bàn).Toàn bộ qúa trình đi đến Giải Thoát nầy được Tâm Kinh cô đọng trong phần kết của bài Kinh bằng một câu Chân Ngôn.

Chính vì Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức có vai trò tất yếu như thế đối với sự Giải Thoát cho nên Tâm Kinh khẳng định:

Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nghĩa là:

Các vị Phật đời quá khứ, đời hiện tại và đời tương lai đều nương tựa vào nhận biết trong tỉnh giác nầy mà đạt đạo quả Vô Thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đoạn Kinh nầy đồng thời nói rằng Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức là con đường duy nhất đề thành Phật.

Vì sự thật về con người và sự Giải Thoát được thấy nhờ Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức thật khó tin, cho nên Tâm Kinh lại phải một lần nữa nhắn nhủ rằng:

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-. thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Nghĩa là:

Phải biết rằng: Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức là lời nói thật có sức mạnh lớn, là lời nói thật của trí tuệ lớn, là lời nói thật lớn nhất, là lời nói thật cao cấp nhất, luôn trừ hết các khổ não, chân thật không dối.

Để kết lại bài kinh, Tâm Kinh nói lên một cách cô đọng toàn bộ quá trình đi đến Giải Thoát mà Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức mang lại như sau:

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế, Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề. Tát bà ha. Nghĩa là:

Khi nói đến Trí Tuệ Trong Tỉnh Thức, tức là phải nói đến lời thật: Vượt qua, vượt qua, đến bờ tỉnh thức, nương vào tỉnh thức, thành tựu tuệ giác.

- Vượt qua: Hết chấp (Tâm không còn vướng mắc).


- Vượt qua: Hết sợ hãi (Không còn sợ hãi).


- Đến bờ tỉnh thức -Nương vào tỉnh thức: Hết Vô Minh (Xa lìa điên đảo mộng tưởng).


- Thành tựu tuệ giác: Đạt được Gỉai Thoát (Đạt đến Niết Bàn).

0 nhận xét:

Đăng nhận xét